CHÚC CÁC THẦY CÁC CÔ
NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG
NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG
Các dân tộc Việt nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: KST
Người gửi: Nguyễn Địch Long (trang riêng)
Ngày gửi: 01h:00' 19-05-2012
Dung lượng: 72.9 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn: KST
Người gửi: Nguyễn Địch Long (trang riêng)
Ngày gửi: 01h:00' 19-05-2012
Dung lượng: 72.9 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
TỔ QUỐC VIỆT NAM – DÂN TỘC VIỆT NAM
MỤC LỤC
Lời nói đầu:
1. Dân tộc Cơ Tu
2.Dân tộc Dao
3.Dân tộc Ê Đê
4.Dân tộc Gia Lai
5.Dân tộc Giáy
6.Dân tộc Gié - Triêng
7.Dân tộc Mảng
8.Dân tộc H`Mông
9.Dân tộc Lào
10.Dân tộc Lô Lô
11.Dân tộc Lự
12.Dân tộc M`Nông
13.Dân tộc Mạ
14.Dân tộc Mường
15.Dân tộc Si La
16.Dân tộc Tà Ôi
17.Dân tộc Tày
18.Dân tộc Thái
19.Dân tộc Thổ
20.Dân tộc Xinh Mun
21.Dân tộc Ba Na
22.Dân tộc Bố Y
23.Dân tộc Brâu
24.Dân tộc Bru - Vân Kiều
25.Dân tộc Chơ Ro
26.Dân tộc Chứt
27.Dân tộc Chu – ru
28.Dân tộc Chăm
29.Dân tộc Co
30.Dân tộc Cống
31.Dân tộc Cơ - ho
32.Dân tộc Cơ Lao
33.Dân tộc Hà Nhì
34.Dân tộc Hoa
35.Dân tộc Hrê
36.Dân tộc Kháng
37.Dân tộc Khơ me
38.Dân tộc Khơ Mú
39.Dân tộc Kinh
40.Dân tộc La Chí
41.Dân tộc La Ha
42.Dân tộc La Hủ
43.Dân tộc Ngái
44.Dân tộc Nùng
45.Dân tộc Ô đu
46.Dân tộc Pà Thẻn
47.Dân tộc Phù Lá
48.Dân tộc Pu Péo
49. Dân tộc Ra Glai
50.Dân tộc Rơ Măm
51.Dân tộc Sán Chay
52.Dân tộc Sán Dìu
53.Dân tộc Xtiêng
54.Dân tộc Xơ Đăng
Lời nói đầu:
Việt Nam - Tổ quốc của nhiều dân tộc. Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang gây dựng non sông "Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dãi từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).
Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.
Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mảnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu...) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.
Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hóa xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre xanh gai góc đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu dân ca quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chan chứa sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long. ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế...), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc. Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.
Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên ở thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong mùa hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơ mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hòa về
MỤC LỤC
Lời nói đầu:
1. Dân tộc Cơ Tu
2.Dân tộc Dao
3.Dân tộc Ê Đê
4.Dân tộc Gia Lai
5.Dân tộc Giáy
6.Dân tộc Gié - Triêng
7.Dân tộc Mảng
8.Dân tộc H`Mông
9.Dân tộc Lào
10.Dân tộc Lô Lô
11.Dân tộc Lự
12.Dân tộc M`Nông
13.Dân tộc Mạ
14.Dân tộc Mường
15.Dân tộc Si La
16.Dân tộc Tà Ôi
17.Dân tộc Tày
18.Dân tộc Thái
19.Dân tộc Thổ
20.Dân tộc Xinh Mun
21.Dân tộc Ba Na
22.Dân tộc Bố Y
23.Dân tộc Brâu
24.Dân tộc Bru - Vân Kiều
25.Dân tộc Chơ Ro
26.Dân tộc Chứt
27.Dân tộc Chu – ru
28.Dân tộc Chăm
29.Dân tộc Co
30.Dân tộc Cống
31.Dân tộc Cơ - ho
32.Dân tộc Cơ Lao
33.Dân tộc Hà Nhì
34.Dân tộc Hoa
35.Dân tộc Hrê
36.Dân tộc Kháng
37.Dân tộc Khơ me
38.Dân tộc Khơ Mú
39.Dân tộc Kinh
40.Dân tộc La Chí
41.Dân tộc La Ha
42.Dân tộc La Hủ
43.Dân tộc Ngái
44.Dân tộc Nùng
45.Dân tộc Ô đu
46.Dân tộc Pà Thẻn
47.Dân tộc Phù Lá
48.Dân tộc Pu Péo
49. Dân tộc Ra Glai
50.Dân tộc Rơ Măm
51.Dân tộc Sán Chay
52.Dân tộc Sán Dìu
53.Dân tộc Xtiêng
54.Dân tộc Xơ Đăng
Lời nói đầu:
Việt Nam - Tổ quốc của nhiều dân tộc. Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang gây dựng non sông "Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dãi từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).
Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.
Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mảnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu...) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.
Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hóa xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre xanh gai góc đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu dân ca quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chan chứa sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long. ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế...), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc. Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.
Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên ở thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong mùa hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơ mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hòa về
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







